VŨ HOÀNG CHƯƠNG KẺ SĨ CỦA NỀN VĂN CHƯƠNG VNCH 
(5. 5. 1916 – 6. 9. 1976)

Trong mùa quốc nạn 30.4 năm nay hàng ngũ hậu duệ VNCH chúng tôi muốn nhắc nhở và vinh danh tới thi văn nghệ sĩ Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ lớn của miền nam VN thời VNCH. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc của Việt Nam Cộng hòa, ngoài Ông còn vinh dự được vinh danh là “Thi bá” Việt Nam. Ông là một người cầm bút mà còn đầy đũ tiết tháo được xứng đáng đứng ngang hàng như các thần tướng VNCH đã tuẩn quốc trong ngày quốc hận 30.4.1975 và các chính khách khác của miền nam như cố Tổng Thống Trần văn Hương, cố Thủ Tướng Phan Huy Quát.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương một nhân cách lớn, là nhà thơ, nhà văn và là một thầy giáo đã chọn làm công dân VNCH cho đến hơi thở cuối cùng. Sau 1975 mặc dù được cộng sản mời gọi, săn đón của những cán bộ cao cấp của cs như Xuân Diệu, Tố Hữu, Huy Cận nhưng ông khước từ những ân huệ từ bên thắng cuộc, bất hợp tác và chửi thẳng vào mặt những tên văn nô như tố hữu, huy cận... bọn cộng sản bắt giam và ghép ông tội phản động, "phát hành lưu trữ văn hoá đồi truỵ"... Ông bị bắt giam vào nhà giam Chí Hòa...
GIAI THOẠI VỀ CUỘC GẶP MẶT VỚI CÙ HUY CẬN SAU 1975
Huy cận là bạn là đàn em của Vũ Hoàng Chương trong thập niên 40 (t.k20) khi ông chưa di cư vào miền nam năm 1954. Ngày 30.4 năm 1975 miền nam bị bỏ rơi và cộng sản thắng đại cái “đại thắng muà xuân”. Cù huy cận và Vũ Hoàng Chương có dịp lại gặp nhau trong hoàn cảnh éo le quốc cộng. Huy-cận được cử vào Saigon cùng với một phái đoàn với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam.
Dĩ nhiên người mà huy-cận muốn gặp đầu tiên là Vũ-hoàng-Chương cũng vì tình bạn cũ và cũng nghĩ rằng nếu chiêu dụ được Vũ theo cách mạng thì mình lập được công lớn. Vì vậy huy-cận đã sửa soạn cuộc thăm viếng rất trọng thể. Lễ vật đến thăm Vũ-hoàng-Chương gồm một chai rượu quí, một lọ đầy thuốc phiện và cũng không quên mang theo một bức hình hồ chí minh. Rượu và thuốc thì để biếu bạn, còn bức hình thì huy-cận ước mong sẽ được Vũ-hoàng-Chương đề tặng cho mấy vần ca ngợi để có bằng chứng báo cáo lấy công đầu.

Cuộc gặp gỡ diễn ra tốt đẹp sau bao năm xa cách. Vũ-hoàng-Chương đón huy-cận như một bạn cố tri nồng nàn vui vẻ. Sau khi Huy-Cận ngỏ ý muốn Vũ đề thơ thì Ông trầm mặc không nói gì. Huy-cận khi ra về có hẹn ba ngày sau sẽ cho người đến xin lại bức hình, Vũ-hoàng-Chương cũng chỉ ậm ừ tiễn bạn.
Đúng ba ngày sau khi nhân viên của huy-cận tới thì thấy trên bàn vẫn còn y nguyên hai món lễ vật và bức hình, Vũ-hoàng-Chương không hề đụng tới mặc dù rượu với thuốc phiện đối với Ông là rất quí hiếm. Còn bức hình thì vẫn chỉ là bức hình như khi đem tới,không một nét chữ đề. Được báo cáo lại, dĩ nhiên là huy-cận tím mặt. Nhưng Ông biết tính họ Vũ là ngưòi không dễ lung lạc nên cũng đành thôi.
Vũ-hoàng-Chương, quả là một người có khí phách tiết tháo đại diện cho giới văn học nhân bản VNCH. Ông có một cơ hội an thân nhưng Ông đã giữ tiết tháo không a dua theo thời cuộc. Thế là lại có thêm một cái ‘họa’, ngày 13 tháng 4 năm 1976, bị vc bắt giam vào khám Chí Hòa, đó cũng chính là phần thưởng của phe thắng cuộc dành cho ông là nhà tù nhỏ khám Chí Hoà. Ông được giam chung cùng một số nhà trí thức của miền nam khác.

Với thân hình gầy yếu sẵn có, phải ăn cơm tù đạm bạc lại thêm nghiện thuốc thì làm sao mà Ông chịu nổi. Có thể nói bao nhiêu ngày trong tù, Ông đau yếu cả bấy nhiêu ngày. Sức lực Ông kiệt quệ dần dần, đã có lúc phải nằm liệt giường. Chính quyền “giải phóng” biết Ông không còn sống nổi bao lâu, nên sau thời gian giam giữ đã quyết định thả Ông về để tránh tiếng Ông bị bức tử trong tù. Về nhà gặp lại vợ con, dĩ nhiên là Ông mừng rỡ, nhưng trong đáy lòng hình như Ông có điều gì thỏa mãn vì tuy nằm bẹp trên giường Ông không có vẻ sầu héo bi lụy của một người gần đất xa trời. Một hôm Ông thố lộ là ở trong tù Ông có phần thích thú vì đã được Thủ-tướng bưng giúp bô vệ sinh cho mình. Mãi sau người nhà Ông mới biết bị giam chung cùng với Ông là Bác sĩ Phan-huy-Quát. Bác sĩ Quát đã có thời làm Thủ-tướng chính phủ dân sự do Cụ Phan-khắc-Sửu là Quốc trưởng. Vì mến thương Vũ-hoàng-Chương và vì lương tâm của người y sĩ, trong thời gian bị giam chung, Bác sĩ Quát đã tận tình chăm sóc cho nhà thi sĩ bất hạnh đau yếu, và không ngần ngại giúp đỡ cả việc vệ sinh hàng ngày. Đó là niềm vui cuối cùng của thi sĩ họ Vũ trước khi Ông lìa đời ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn, tức là 5 ngày sau khi được vc thả ra vì bệnh quá nặng.
Trong sự nghiệp văn chương thi phú của ông, người ta còn tìm thấy trong kho tàng văn hốa những sáng tác về những ngày đau buồn sau 30.4.1975 khi thời thế xã hội đổi thay số phận con người cũng bị long đong xoay vần theo vận mệnh của đất nước , cái gì là vật ngoài thân đều ko thuộc về mình , chỉ còn lại chút phẩm giá và lòng tự trọng ... tiết tháo của nhà thơ VHC khiến người sau phải nghiêng mình cảm phục .Chúng tôi xin lấy bài thơ “Vịnh tranh gà lợn” của nhà thơ Vũ Hoàng Chương làm trong khoảng thời gian tranh tối tranh sáng của thời sự để tiêu biểu cho tâm sự của ông trước cảnh bát nháo của đàn khỉ Pắc Pó vào thành.

Bối cảnh của lúc ấy là, ngày Tết Bính Thìn, khi Cộng Sản vừa chiếm được cả đất nước và một chính sách trả thù phân biệt được áp đặt lên toàn dân tộc. Các viên chức, sĩ quan của chế độ VNCH bị tù đày trù dập đến gần cả triệu người...các khuôn mật lớn của văn nghệ sĩ bị truy bức, bắt bớ, sách vở bị tịch thu đốt bỏ. Lúc ấy, buổi hỗn quân hỗn quan, lúc thú vật đội lốt người, tác yêu tác quái thì sáng của ông đã ra đời:
“Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành 
Gà lợn om sòm rối bức tranh
Ràng vách có tai, thơ có họa
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng 
Lòng lợn âm dương một tấc thành 
Cục tác nữa chi đừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.”

Những thành ngữ, tục ngữ của dân gian dưới tay nghệ sĩ đã thành đắc địa. Chữ không còn là một nghĩa nữa mà thành nhiều nghĩa, và, sự thâm trầm sâu lắng trong ngữ nghĩa làm bài thơ lột tả được một tâm sự chung mang của cả một thế cuộc tao loạn đầy bất trắc.
Trong tù, ông viết bài thơ cuối cùng của đời mình, gửi cho người thân, như linh cảm thấy một chuyến đi đã kề sẵn. Thơ như tiếng khóc nén thầm của những dòng thơ, từ dòng cổ thi từ thuở Nguyễn Du xưa xa, của nỗi niềm “bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”đến nỗi đau mất nước quặn thắt bây giờ:
“Thấm thoát vào đây tháng đã tròn 
Lông hồng gieo xuống nặng bằng non 
Một manh chiếu lìa hồn ngây ngất 
Ba chén cơm rau xác mỏi mòn 
Ngày tới bữa ăn càng nhớ vợ 
Ðêm về giấc ngủ lại thương con 
Bao nhiêu nước chảy qua cầu nữa 
Chẳng dễ gì phai một tấm son."

Con chim trước khi chết, tiếng hót bi thương. Người thi sĩ, trước khi lìa bỏ trần gian, lời kêu ai oán. Bài thơ thất ngôn bát cú gói ghém cả một tâm tình. Quốc phá, gia vong, thân trong ngục tù, nhưng, tất cả rồi sẽ trôi qua như nước chảy dưới cầu và không bao giờ phai nhạt tấm lòng son sắt với đời, với người, với dân tộc, với đất nước.
Một bài thơ khác của ông mà những người Việt Tự Do rất yêu thích và thường xuất hiện trong các văn đàn đấu tranh hải ngọai đó là bài thơ "trã ta sông núi từng trang sử".http://poem.tkaraoke.com/11858/Tra_Ta_Song_Nui.html.
Nghe nữ danh ca Hoàng Oanh ngâm:https://www.youtube.com/watch?v=RxDXqnNu9Sc


TIỂU SỬ VŨ HOÀNG CHƯƠNG
Thuở nhỏ, ông theo học chữ Hán tại gia đình, học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 vào học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937. Nguồn: http://www.tanhieptho.com/ti%E1%BB%83u-s%E1%BB%AD-va-san…/…/
Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh – Na Sầm.
Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập Ban kịch Hà Nội cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà Hát Lớn và gặp gỡ Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng, thành hôn năm 1944.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, về Nam Định, diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, đi tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, gặp lúc quân Pháp càn đến, ruồng bắt cả nhà, hồi cư về Hà Nội, dạy toán rồi chuyển sang dạy văn và làm nghề này cho đến 1975.
Năm 1954, Vũ Hoàng Chương vào Sài Gòn, tiếp tục dạy học và sáng tác.
Năm 1959 được giải thưởng toàn quốc của chính quyền Việt Nam cộng hòa về tập thơ Hoa đăng. Trong năm này tham dự Hội nghị thi ca quốc tế tại Bỉ.
Năm 1964 tham dự Hội nghị Văn bút Á châu họp tại Bangkok. Năm sau, 1965 lại tham dự Hội nghị Văn bút quốc tế họp tại Bled, Nam Tư. Năm 1967, lại tham dự Hội nghị Văn bút quốc tế họp tại Abidjan, thủ đô Côte d’Ivoire.

1969-1973 là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam thuộc Việt Nam Cộng hòa. Năm 1972 đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc của Việt Nam Cộng hòa. Ông còn được vinh danh là “Thi bá” Việt Nam.
Hậu duệ VNCH thành kính dâng nén tâm nhang lên hương hồn ông để tưởng nhớ đến người chiến sĩ cầm bút tiết tháo bất khuất trên văn đàn VNCH trong suốt thời gian 1954 đến ngày miền bị thôn tính bị cs Bắc Việt cưởng chiếm miền nam VN
Các tác phẩm tiêu biểu

Các tập thơ:
Thơ say (1940)
Mây (1943)
Thơ lửa (cùng Đoàn Văn Cừ, 1948)
Rừng phong (1954)
Hoa đăng (1959)
Tâm sự kẻ sang Tần (1961)
Lửa từ bi (1963)
Ta đợi em từ 30 năm (1970)
Đời vắng em rồi say với ai (1971)
Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (1973)...

Kịch thơ:
Trương Chi (1944)
Vân muội (1944)
Hồng diệp (1944)

Tất cả hình ảnh và tài liệu về người thi sĩ Vũ Hoàng Chương được lấy từ trên internet. Cảm ơn tác giả các bức hình nguyên thủy ( chưa có ghép lá cờ VNCH)
Tổng hợp Hậu duệ VNCH Lê kim Anh 22.4.2018
 HỌC VÕ VIỆT (VOVINAM) LÀ YÊU NƯỚC VIỆT, ĐÚNG SAI??


Bài viết xin được chia sẻ với các đồng môn đang cuồng Vovinam mà còn đang mơ hồ lẩn lộn giửa  tình yêu môn phái và tình yêu thương đất nước giống nòi. Một điều cần khẳn định trước tiên là đất nước VN không phải do hồ chí minh dựng nên, mà là một dãy giang sơn gấm vóc do tổ Hùng Vương và tổ tiên của Viêt tộc đã xây dựng qua nhiều triều đại trong lịch sử với chiều dài 4897 năm.   
Yêu nước là một tình cảm thiêng liêng, quý báu mà bất cứ người dân nào cũng có. Một người yêu nước là phải có trách nhiệm làm đẹp và tiếp tay xây dựng mổi ngày một tốt hơn mãnh đất mà mình đang sống. Yêu nước là một thứ tình cảm thiêng liêng sẳn có trong tiềm thức của con người từ khi tiếp nhận được tiếng ru của mẹ VN - lúc còn nằm trong bụng mẹ. Tình yêu nước, mang tính bẩm sinh, sẽ được đánh thức và trỗi dậy theo từng khúc quanh của lịch sử dân tộc, để cùng chung vai sát cánh trong các cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, chống độc tài phản dân chủ đang đi ngược với đà tiến về tư tưởng của thời đại và những nhóm quyền lực làm ung thối xã hội - tình yêu nước đó được hun đúc từ tinh thần của Hội Nghị Diên Hồng với lời thề quyết chiến cùng chung lòng giử nước. Truyền thống yêu nước của dân tộc ta là truyền thống đạo đức cao quý và thiêng liêng, là cội nguồn của hàng loạt các giá trị truyền thống khác của Việt tộc được tích lũy qua một thòi gian dài gần 5000 năm.  Truyền thống yêu nước là sức mạnh nội tại có sẳn trong một ngân nào đó được dấu kín trong trái tim của mổi người dân để bảo vệ, giúp quốc gia, dân tộc ta vượt qua những  khúc quanh quan trọng khi đất nước bị ngoại xâm lăm le thôn tính, để Việt tộc có thể tồn tại và phát triển. 

Lòng yêu nước chính là tình yêu quê hương, đất nước và tinh thần sẵn sàng dâng hiến khả năng của mình phục vụ cho lợi ích của tổ quốc. Như vậy, lòng yêu nước không có hiện diện trong võ Việt nam (Vovinam). Tóm lại Võ Việt Nam và lòng Yêu Nước là hai phạm trù khác nhau. Nếu có người nào đó nói: Học võ Việt  là yêu nước Việt thì cần phải suy nghĩ lại câu nói đó đúng hay sai?. Chúng tôi những môn sinh trẻ ở hải ngoại rất thất vọng, khi thấy một số các lãnh đạo của nhiều võ đường Vovinam trong nước đã lạm dụng cụm từ yêu nước khi quảng cáo cho Vovinam. Thậm chí đến ông Lê Quốc Ân, nguyên Phó Chủ tịch thường trực Liên đoàn Vovinam thế giới, Chủ tịch Liên đoàn Vovinam Việt Nam đã từng phát ngôn hết sức thiếu hiểu biết như sau: Học võ Việt, yêu nước Việt http://www.sggp.org.vn/hoc-vo-viet-yeu-nuoc-viet-238836.html

NƯỚC LÀ GÌ?

Nước là hình ảnh của non sông, giang sơn gấm vóc, lãnh thổ với biên giới, vùng địa lý khác với nhà nước - Nhà nước là một đơn vị của quyền lực chính trị, là bộ máy cai trị để bảo vệ quốc gia và người dân. Trong cuộc sống, con người có mối tương quan chặt chẽ với nơi mình sinh trưởng và những người cùng huyết thống chung quanh mình. Nước còn là phần đất đã cưu mang chúng ta từ lức chào đời, là phần lãnh thổ của những người có cùng một cha (patrie/fatherland) hay cùng một ông tổ (tổ quốc, 祖 國). Với người VN, quốc tổ là Hùng Vương, là tổ của giống dân có cùng nguồn gốc xuất thân được gọi là con rồng cháu tiên, gọi nhau là đồng bào. Nước của chúng ta có hình cong chử S nằm dọc theo biển đông dài 3.260 km với hai quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa. Tình yêu đất nước được cụ Phan Bội Châu thể hiện như sau:

"Nay ta hát một thiên ái quốc
Yêu gì hơn yêu nước nhà ta
Trang nghiêm bốn mặt sơn hà
Ông cha để lại cho ta lọ vàng

Môn phái Vovinam chỉ là một đơn vị nhỏ có mặt trong đất nước VN có chiều dài lịch sử chưa tới 100 năm còn quá ngắn so vơi chiều lịch sử của "nước VN" thế nên, nếu yêu Vovinam không phải là người yêu nước, mà là yêu bộ môn nghệ thuật của nhà sáng tạo Nguyễn Lộc. Nếu nói yêu nước là phải biết yêu tiếng Việt văn hóa Việt, các anh hùng dân tộc đã từng bảo vệ mãnh đất thiêng liêng này như: Vua Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Bà Triêu, Ngô Quyền, Lý Thương Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung... Và yêu nước không phải là yêu Xã Hội (Chủ Nghĩa) như người cộng sản đã từng lý luận, yêu như người cộng sản VN, người ta gọi là mất trí, vì XHCN là mô thức xây dựng xã hội, không phải là đất nước VN sao có thể yêu được? đó là lý luận túng quẩn trồng tréo của Tuyên giáo đảng csVN.

Lòng yêu nước, thương nòi trở thành một giá trị bền vững của nhân cách người Việt Nam, biểu hiện ra thành hệ thống tổ chức xã hội bình ổn với các phong tục, đạo đức và tín ngưỡng dân gian. Trong đáy tâm hồn người Việt Nam, quan niệm về lãnh thổ, đất nước hòa quyện một cách tự nhiên, bền vững, với tình yêu quê hương, làng xóm, lũy tre xanh đầu làng rất đậm đà và nồng nàn

Lòng yêu nước, thương nòi cùng được nẩy sinh và gắn kết với yêu nhà, yêu làng, yêu xóm, yêu môn phái... Từ cấu trúc nhà, làng, nướcđồng bào...đã thể hiện tổng quát về sự đa dạng trong tư tưởng v tình cảm gắn bó sâu sắc của con “Lạc” cháu “Hồng” ngày hôm nay với tổ tiên dựng nước. Cách biểu hiện tình cảm tâm tư của người Việt cũng rất chơn chất, mộc mạc và giản dị được thể hiện từ trong ca dao, tục ngữ, từ trong những lời ru của Mẹ, rằng:"Bầu ơi thương lây bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn", “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”; “Thương người như thể thương thân”, hoặc “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”, “Lá lành đùm lá rách”… Mỗi khi đất nước đứng trước họa  xâm lăng của kẻ thù, thì người dân nước Việt, nam cũng như nữ, trẻ cũng như già, ở miền xuôi cũng như ở miền núi, hay ở tận vùng sâu, vùng xa, đều sẵn sàng dẹp bỏ mọi hiềm khích để chung tay lo giữ vững giang sơn gấm vóc, chung một lời thề “Sát thát”, bởi vì “Nước mất thì nhà tan”, môn phái cũng không còn.

Giá trị đặc sắc, độc đáo của lòng yêu nước, thương nòi của con người Việt Nam đã từng được khắc ghi trong những áng văn thiên cổ như “Chiếu Dời Đô” của Lý Thái Tổ, “ Thơ Bình Tống” của Lý Thường Kiệt, “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Hưng Đạo, “ Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi về tính nhân ái trong trong Việt đạo khi đói xử với kẻ thù chiến tranh, cách hành quân diệt giặc thần tốc của Nguyễn Huệ. Đó là những yếu tố cấu thành hồn Việt - luôn găn bó với con Hồng cháu Lạc tạo nên sức mạnh tinh thần tổng hợp cho Việt tộc trong suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng và giữ nước, được truyền liên tục  lại từ đời này qua đời khác, để góp sức tạo một xã hội công bằng, xóa đi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu,  đồng thuận vói nhau trong việc xây dựng  một đất nước có đầy đũ dân chủ tự do và bắt kịp đà tiến của thế giới văn minh đang trên đà phát triển.

Tóm Lại: Trải qua biến cố 30.4.1975 cho đến nay, người môn sinh trong và ngoài nước còn được bao nhiêu người còn có tấm lòng yêu nước thương dân? Nếu nói như các vị lãnh đạo VVN quốc doanh trong nước "yêu Võ Việt là yêu nước Việt", thì xin phép được hỏi các vị đó, tại sao một phần đất nước chúng ta đang lọt vào tay Trung Cộng sao không thấy các môn sinh VVN chúng ta lên tiếng hay có những hành động như nhũng người yêu nước khác trong quần chúng?? Những viêc nhỏ và tầm thường nhát như là lên tiếng về: thực phẫm có chất tẫm chất độc hại cho sức khỏe người dân VN cũng không thấy các môn sinh VVN lên tiếng để bảo vệ sự tồn vong của Việt tộc ? một hành động không đi ngược lại với nội qui của môn phái, trái lại còn đúng với tinh thần của một người Việt võ sĩ. Nếu có ai đó tò mò, ghé mắt vào các trang FB của các môn sinh VVN thì sẽ thấy được lòng yêu quê hương đất nước của ho có còn hay không?? Nếu có, thì con số hết sức khiêm nhường, chỉ đếm được trên đầu ngón tay - một nổi thấu tâm cang của mẹ VN khi nhìn về đám con hoang của mẹ đang đứng trong hàng ngũ VoViNam. 

Bất công xã hội mổi ngày một leo thang tại VN, đúng ra với một môn sinh được trang bị Võ Việt, trang bị bằng " Chủ thuyết Cách Mạng Tâm Thân" với bàn tay thép để can thiệp cho những người bị hà hiếp bởi bạo quyền, bênh vực cho dân oan để họ còn có quyền được sống và tồn với chúng ta? Bạo quyền đang hà hiếp dân ta khắp mọi nẻo đường đất nước nhưng chỉ thấy người môn sinh VVN hàng ngày đem bàn tay thép ra để bưng bô cho bạo quyền, đôi khi lại còn tiếp tay vơi bạo quyền (các môn sinh CAND) đàn áp đánh đập người dân yêu nước đám người đang xé tan hoang bảo vật trấn môn (CMTT) của Vovinam do thầy sáng tổ đã để lại cho các thế hệ đi sau. Thầy Nguyễn Lộc có sống lại nghĩ sao về đám con hoang này?? Tình yêu nước thương nòi của người môn sinh chúng ta là như thế đó sao? Những ai từng cổ động: "HỌC VÕ VIỆT-YÊU NƯỚC VIỆT" nghĩ sao khi đã thốt ra lời nói này? hay là chỉ biết nói để lừa bịp người dân?

Đừng lừa bịp người dân tình yêu nước
Để mất niềm tin vào Võ Việt Nam
Là người Việt Võ Sĩ hãy sống thật
Với tim từ ái và bàn tay thép

Nghiêm lễ - Nguyễn thị Hồng, 21.4.2018
 70 NĂM DO THÁI XÂY DỰNG ĐÁT NƯỚC SO 
VỚI 73 NĂM BÁC VÀ ĐẢNG XÂY DỰNG VN RA SAO??


Nhân ngày thành lập quốc gia Do Thái (Israel) 14.5.1948, người viết muốn nói đến sự thành tựu của ngươi Do Thái sau 70 năm thành lập quóc gia, với nhiều khó khăn phát triển, nhứt là về mặt nông nghiệp, mà điều kiện không thuận lợi như VN. Sự thành công của họ đáng để cho các đỉnh cao trí tuệ VN phải học hỏi  nhiều thêm nơi những gì mà Israel đã thành công trong quá khứ
VNDCCH tuyên bố độc lập từ ngày 2.9.1945 còn Israel tuyên bố độc lập ngày 14.5.1948 tức là 3 năm sau VN, nhưng Israel đã thành công vượt bực, cho đến nay CHXHCNVN nếu còn do đảng cs lãnh đạo thì không bao giờ có cơ hội để bắt kip Do Thái.

Nói đến Do Thái phải nói là một đất  nước thần kỳ mà cả thế giới phải nể trọng nước này. Họ kính nể vì sự thành tưu về mọi mặt: Kinh tế, chính trị, giáo dục nông nghiệp, khoa học, kỷ thuật và luôn về quân sự....Nhưng trong bài viết này chỉ đề cập giơi hạn trong phạm trù về sự sáng tạo quân sự và nông nghiệp của Israel.

BỐI CẢNH THÀNH LẬP

Nhà nước Israel được thành lập năm 1948 và đặt thủ đô ở Tây Jerusalem, còn Đông Jerusalem lúc đó nằm dưới sự kiểm soát của Jordani. Tuy nhiên, sau cuộc chiến Sáu Ngày vào năm 1967, Israel chiếm luôn cả Đông Jerusalem và sáp nhập vào quốc gia Do Thái. Năm 1980, một đạo luật lập quy chế Jerusalem là thủ đô “vĩnh viễn và không chia cắt được” của Israel. Bất chấp các nghị quyết phân ranh của Liên Hiệp Quốc trước đó. Quốc gia Do Thái được thành lập trong sự phản đối của các nước trong khối Á Rập. Đó là lý do mà nước này trở nên thần kỳ là vừa phải xây dựng đất nước vừa phải chỉnh đốn và tăng cường quốc phòng, đề phòng quân đội của các nước Ả Rập tấn công bất ngờ. 

Quốc gia này có diện tích tương đối nhỏ, song lại có đặc điểm địa lý đa dạng. Trung tâm tài chính và công nghệ của Israel là Tel Aviv và Jerusalem được tuyên bố là thủ đô vào năm 1980. ngày 11 tháng 5 năm 1949 dân số 8.839.080 triệu. Bình quân đầu người GDP:39.126 USD/năm (2017), gia nhập LHQ ngày 11 tháng 5 năm 1949. 

Trong khi đó CHXHCNVN theo chế độ độc tài-độc đảng, Diện tích: 331.690 km²,  dân số: 95.415.00 người- Sau 73 năm xây dựng thiên đàng XHCN với 24.300 tiến sĩ và 101,000 thạc sĩ (=1/65 dân số cuả Israel). Nhưng sau 73 năm xây dựng bình quân đầu người GDP chỉ đạt đươc 2.385USD/năm (2018), nếu đem so với Do Thái (39.126 USD/năm) thì chỉ có nước độn thổ. Cái hay của CHXHCNVN là sau 73 năm xây dựng đất nước từ độc lập chuyễn sang nô lệ Trung Cộng với nợ công  $94,854,098,361. Tuy thế, nhưng chưa bao giờ biết thẹn với những báo cáo, thống kê láo...

Ngân hàng Israel nắm giữ 97,22 tỉ dự trữ ngoại hối. Thu nhập nền kinh tế quốc dân là 318,8 tỷ USD/năm. Tuy nhà nước Israel chỉ mới được thành lập cách đây gần 70 năm nhưng quốc gia này đã trở thành cường quốc quân sự hàng đầu thế giới. Bất chấp những khó khăn chồng chất, Israel sau gần 70 năm đã trở thành quốc gia hoàn toàn khác biệt. Ngày nay, Israel trở thành cường quốc công nghệ và là một trong những nhà xuất khẩu vũ khí hàng đầu thế giới, đạt doanh thu 6,5 tỷ USD mỗi năm. Kể từ năm 1985, Israel trở thành quốc gia xuất khẩu máy bay không người lái lớn nhất thế giới, chiếm 60% thị phần toàn cầu. Mỹ chỉ xếp thứ 2 với 25%. Khách hàng cũng khá đa dạng, từ Nga, Hàn Quốc, Úc, Pháp, Đức và Brazil. Năm 2010, 5 quốc gia Âu Châu dùng máy bay không người lái Israel cho các chiến dịch quân sự ở Afghanistan.

Do Thái một quốc gia có tuổi đời non trẻ hơn VN nhưng lại nhanh chóng sở hữu công nghệ quân sự hàng đầu, làm thay đổi cục diện chiến trường? Đó là nhờ vào chiến lược phát triển tài tình của giới lãnh đạo Israel. Quốc gia này có số dân khiêm tốn, tập trung 4,5% GDP cho nghiên cứu và phát triển công nghệ.

CÁCH CHỌN LÃNH ĐẠO: 

Người Do Thái không có các đỉnh cao trí tuệ như CHXHCNVN, nhưng họ biết biến sa mạc thành những nơi sản xuất lương thực sạch hàng đầu trên thế giơi. Cán bộ công nhân viên chức của họ không xây biệt phũ, họ không biết xài bằng cấp trong bộ máy công quyền không có tham nhũng và nạn bè phái "một người làm quan cả họ làm quan" như CHXHCNVN. Họ không biết báo cáo láo mà chỉ biết hết lòng đem phúc lợi về cho nhân dân họ, tất cả vì dân không vì cá nhân và nhóm lợi ích.

Quá trình tuyển chọn lãnh đạo của Israel dựa trên tài năng chứ không phải dựa trên mối quen biết hay sức mạnh tài chính. Quá trình tuyển chọn rất minh bạch và dân chủ. Cộng với văn hóa tranh luận và đặt câu hỏi “tại sao ông là sếp của tôi; tại sao tôi không phải là sếp của ông?” đầy thách thức, làm cho người sếp không đủ tài năng sẽ phải nhường chỗ cho người khác. Quá trình này giúp tìm ra được người lãnh đạo tốt nhất cho công ty, tập đoàn hay chính phủ. Khi có lãnh đạo giỏi, việc trao quyền cho cấp dưới được thực hiện dễ dàng hơn, các thông tin, ý tưởng, giải pháp được đến từ nhiều người hơn là chỉ một số người có trách nhiệm.

MỘT NỀN NÔNG NGHIỆP THUỘC HÀNG ĐẦU THẾ GIỚI

Do thái (Israel) có diện tích rất nhỏ, trên 20.000 km2, tức là chỉ lớn hơn tỉnh Nghệ An của Việt Nam chút ít nhìn đâu cũng thấy sa mạc nóng cháy, đất đai cằn cổi. Tuy nhiên Israel lại được mệnh danh là “thung lũng silicon” của thế giới trong lĩnh vực nông nghiệp và kỷ nghệ. Chỉ với 2,5% dân số làm nông nghiệp nhưng mỗi năm Israel xuất khẩu chừng 3 tỷ USD nông sản, là một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới. Ít ai biết rằng, những sản phẩm rau quả từ Arava – một trong những nơi khô cằn nhất thế giới – lại chiếm tới trên 60% tổng sản lượng xuất khẩu rau của Israel và 10% tổng sản lượng hoa xuất khẩu.

Thung lũng Arava. Địa danh khá lạ tai đối với khách du lịch, nhưng lại là cái tên rất tự hào của mọi người dân Israel vì tại đây, phép màu đã làm nở hoa giữa sa mạc – những phép màu thực sự của khoa học công nghệ. Là phần khô hạn nhất của hoang mạc Negev với lượng mưa bình quân chỉ từ 20-50mm mỗi năm (Việt Nam là 1500mm/năm). Độ ẩm cực thấp và sự chênh lệch nhiệt độ khiến đá cũng phải vỡ vụn mà khắp hoang mạc phủ một lớp đá vụn và cát đặc thù sa mạc. Arava là một trong những vùng đất khô cằn nhất thế giới.
Thung lũng Arava. Địa danh khá lạ tai đối với khách du lịch, nhưng lại là cái tên rất tự hào của mọi người dân Israel vì tại đây, phép màu đã làm nở hoa giữa sa mạc – những phép màu thực sự của khoa học công nghệ. Là phần khô hạn nhất của hoang mạc Negev với lượng mưa bình quân chỉ từ 20-50mm mỗi năm (Việt Nam là 1500mm/năm).

Ấy thế mà nơi đây mọc nên những nông trại trồng đủ loại cây từ rau củ, cây ăn trái đến hoa hòe. Tất cả đều xanh tốt và cho sản lượng không nơi nào sánh được. Không từ nào có thể diễn tả đúng hơn về một “vườn địa đàng” đã được tạo ra giữa thung lũng Arava, đúng như Tổng thống Israel Shimon Peres đã thốt lên khi đến thăm nơi này năm 2009: “Hãy đến và thấy chính con người cũng có thể tạo nên vườn địa đàng! (Garden of Eden)”

Ông Ezra Ravins, người đứng đầu cộng đồng hơn 3.000 người tại khu vực này cho biết, từ một nhóm thanh niên Israel “bồng bột”, mang theo bánh mì và nước quyết định định cư tại thung lũng Arava năm 1959, cả một cộng đồng đã được xây dựng với nhiều thế hệ, tạo thành một trong những trung tâm nông nghiệp lớn nhất cả nước. “Khi những người đầu tiên đến đây, quyết định đó được xem là “điên rồ” nhất và chính những nhà khoa học cũng khẳng định con người không thể sống được ở vùng đất này.”

Ấy vậy mà họ đã làm được, không chỉ làm được, mà còn tuyệt đối thành công, trồng trọt mà không cần đất và không cần nhiều nước, thoạt nghe cứ như chuyện của thế giới nào đó không phải trái đất này. Nhưng không, đó là sự thật, đó là Israel!

CÁCH TRỮ NƯỚC VÀ SỬ DỤNG NƯỚC CHO NÔNG NGHIỆP

Nói đến Do Thái là phải nói đến cách trữ nước để dùng cho ngành nông nghiệp trên sa mạc. Khu nông nghiệp tại Arava gắn liền với một công trình xứng đáng ghi nhận như một kỳ công mà con người đã tạo ra giữa xa mạc: Bể chứa nước khổng lồ mang tên Shizaf. Với khả năng dự trữ 150.000 m3 nước sạch, bể chứa này có nhiệm vụ cấp nước sạch cho sinh hoạt và tưới tiêu. Bể được xây dựng để tích trữ nước từ giếng khoan vào thời điểm nhu cầu giảm. Một điều cần nên biết một giọt nước ở Israel được coi như là một giọt máu. Nước ngọt trong sinh hoạt hàng ngày là một nổi lo lắng rất lớn của nhà nước. Ở Do Thái người ta thường thấy những nhà máy lọc khổng lồ để biển nước biển thành nước ngọt và nước mặn được bơm từ biển vào rồi được lọc thành nước ngọt cho dân dùng trong sinh hoạt hàng ngày.



Bể có đáy chìm 3,5 m dưới mặt sa mạc và chia thành nhiều lớp khác nhau, tạo nên bề mặt nổi 10m. Một khối lượng công việc khổng lồ được thực hiện để đào bỏ 320.000 m3 đá và đất sa mạc. Độ sâu của giếng khoan lên tới 1,5 km mới tới túi nước ngầm. Kỹ thuật thiết kế đặc biệt của bể chống lại chế độ bốc hơi tự nhiên cũng như thu gom nước một cách hoàn hảo.

Điều kiện tự nhiên của Israel đặc biệt khô hạn với lượng mưa rất thấp và thay đổi theo từng mùa: Phía Bắc quốc gia này lượng mưa khoảng 800 mm/năm và ở phía Nam chỉ khoảng 50 mm/năm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 11 đến khoảng tháng 3 năm sau và lượng bốc hơi tự nhiên lên tới 1.900-2.600 mm/năm. Không có gì ngạc nhiên khi nước ngọt ở Israel được coi như vàng trắng và được quản lý một cách chặt chẽ hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới. Chính phủ xây dựng hẳn một bộ luật để đo lường mức tiêu thụ nước, kiểm soát việc khai thác nước ngầm. Kỷ nghệ khai thác nước của Israel thuộc hàng tối tân nhất thế giới với tỉ lệ tái chế tới 75%.

Dọc ngang Israel, ở những thành phố lớn hay những vùng nông thôn xa xôi, hệ thống tưới nước hoàn hảo đến mức gần như không bỏ phí một giọt nước nào. Đại diện công ty công nghệ tưới NaanDanJain cho biết 75% hệ thống nước nông nghiệp của Israel áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, 25% còn lại tưới nước bằng ống dẫn và vòi tưới các loại phun mưa nhỏ, không hề có chế độ tưới ngập nước. Israel cũng là quốc gia phát minh ra hệ thống tưới nước nhỏ giọt điều khiển bằng máy tính, kết hợp với các trang bị kiểm soát độ ẩm trong đất, có thể tính toán chính xác nhu cầu nước và tiết kiệm tối đa.

Tại công ty Netafim, người ta có thể chứng kiến những thành quả đáng ngạc nhiên về hiệu quả của việc sử dụng công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel trên khắp các dự án ở những vùng khô hạn nhất trên thế giới. Hệ thống ống dẫn nước như những mao mạch dẫn tới từng gốc cây, được vận hành chính xác bằng kỹ thuật cao cũng như sử dụng tối đa năng lượng mặt trời. Israel thành tựu trong chiến lược giải quyết được sự thiếu nước, biến nước thành tài sản, đang dẫn đầu thế giới về tái chế nước thải, hơn 70% lượng nước được tái chế, gấp 3 lần quốc gia đứng thứ hai Tây Ban Nha.


Nhịn người mà nghĩ đến ta, Israel chỉ cần vài chục năm xây dựng tái tạo đất nước, đã nhanh chóng trở thành một cường quốc về quân sự kinh tế, 70 năm miệt mài xây dựng đât nước tạo phúc lợi cho dân vượt xa CHXHCNVN - với 73 năm đốt đèn đỏ chạy theo bác, đảng và chủ nghĩa, từ một đất nước vơi nhiều tài nguyên khoáng sản, nhưng chỉ đem lại phúc lợi cho nhóm lợi ích thay vì cho dân. Diện tích ngày càng thu hẹp vì lãnh đạo chỉ toàn là một thứ hèn và bất tài nên bị nước lạ nuốt chửng từng phần đát đai - gia sản của tổ tiên đã để lại cho con Lạc cháu Hồng..

CHXHCNVN một nước đông dân hơn, có nhiều đỉnh cao trí tuệ nhiều hơn, cũng không nhiều chiến tranh hơn Do Thái, nhưng với 73 năm xây dựng chỉ thuộc hàng xách dép cho Do Thái. Các thành tích của CHXHCNVN xây dựng được trong 73 năm qua và hơn hẳn Do Thái là: có nhiếu hàng chục sư đoàn dân oan, tham nhũng, buôn dân-bán nước, hèn - khiếp nhược, bưng bô cho nước lạ nhiều....đó là những mặt mà Do Thái không bao giờ đạt được như CHXHCNVN.


Còn bao nhiêu lâu nữa
Dân tộc sẽ đứng lên
Ngang tầm cao thời đại
Đòi tự do nhân quyền?
Câu trả lời than ơi!
Thoảng qua như làn gió.
Còn bao nhiêu lâu nữa
Chín mươi triệu người Nam
Đứng lên giành lại nước
Đuổi sạch giặc tàn tham?
Câu trả lời than ơi!
Thoảng qua như làn gió.
( Thơ Phan Huy)

Lê Kim Anh19.4.2018
KHI CÀ PHÊ PHIN BỊ GIẢI PHÓNG THÀNH
 "CÁI NỒI NGỒI TRÊN CÁI CỐC" 

Lời người viết: Đây là câu chuyện kể về sự lạc hậu của đoàn quân vào cướp miền nam, có cái tên là "giải phóng miền nam" khi đối diện trước một thế giới văn minh như thành phố Sài Gòn vào những ngày sau 30.4.1975, câu chuyện thường được nhắc đi nhắc lại trong dân gian, là một câu chuyện kể về những chàng hai lúa "giải phóng quân" đi uống cà phê  ở Sài Gòn.

Cà phê (được phiên âm từ tiếng Pháp café) là một loại thức uống được ủ từ hạt cà phê rang, lấy từ quả của cây cà phê. Cây cà phê có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Phi và các vùng Madagascar, Comoros, Mauritius và Réunion trên Ấn Độ Dương. Giống cây này được xuất khẩu từ châu Phi tới các nước trên thế giới và hiện nay đã được trồng tại tổng cộng hơn 70 quốc gia, chủ yếu là các khu vực nằm gần đường xích đạo thuộc châu Mỹ, Đông Nam Á, Ấn Độ và châu Phi. Cà phê có hai giống chính khác nhau là cà phê Arabica và cà phê Robusta. Như cái tên Robusta mà nó thể hiện là robust, tức là mạnh, chứa nhiều cafeine, làm mất ngủ. Arabica thì trái lại, ít độc hại hơn, nhưng chứa nhiều hương thơm (aroma). Hạt cà phê sau khi rang sẽ được đem đi xay và ủ với nước sôi để tạo ra cà phê dưới dạng thức uống. 

Nước sản xuất đứng nhất thế giới về Cà phê là Ba Tây (2.249.010 tấn/năm) và VN đứng thứ nhì với lượng xuất khẩu là 961.200 tấn. Những nước tiêu thụ cà phê lớn nhất là Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Nhật Bản và Ý. Nước có nhiều Cà phê đặc chế đó là nươc Áo với trên 41 cách pha chế khác nhau. Trong khi  đó: Ý là một nước khá nổi tiếng về sản xuất máy cá phê, nhưng chỉ có 11 kiểu pha đặc chế như sau:

1.Caffè latte – kiểu cà phê sữa của Ý, một phần sữa nóng, một phần espresso (xem cà phê latte)
2.Cappuccino – một phần ba là espresso, một phần ba là sữa nóng và một phần ba sữa đánh bông, thêm bột cacao hoặc bột quế (xem cà phê cappuccino)
3.Espresso con panna – espresso dùng kem sữa đánh đặc thay vì sữa sủi bọt
4.Chocolaccino – cappuccino thêm sô-cô-la nghiền
5.Coretto – cà phê espresso với rượu mạnh, ví dụ như Coretto con Grappa, Coretto con Fernet...
6Doppio – hai phần espresso
7.Espresso – cà phê cực đặc không có sữa hay đường, pha bằng cách cho nước dưới áp suất cao (9 đến 15 bar) đi qua bột cà phê xay cực mịn. Một tách (một phần) espresso khoảng 25 ml (xem cà phê espresso)
8.Lungo – espresso với lượng nước nhiều gấp đôi (xem espresso lungo)
9.Latte Macchiato – sữa ấm sủi bọt và rót cẩn thận espesso lungo vào (xem: latte macchiato)
10.Mischio – cà phê pha với cacao và kem sữa đánh đặc
11.Ristretto – espresso với lượng nước rất ít (15-20 ml thay vì 25 ml) (xem espresso ristretto)

Khoảng đầu thế kỷ 20, cà phê theo dấu chân người Pháp du nhập vào Việt Nam và cũng chính họ truyền đạt cho người Việt cách pha chế cà phê bằng phin "Filtre à Café". Phin tức là phiên âm từ cái lọc cà phê "Filtre" của người Pháp. 

Trải qua bao thăng trầm cùng nhịp sống đi lên của đất nước, ly cà phê phin đã dần ăn sâu vào văn hóa ẩm thực lẫn đời sống của người dân Việt Nam một cách bất thành văn. Nhưng cà phê phin sau khi đàn khỉ Pắc Pó tràn vào miền nam sau ngày 30.4.1975, bổng chốc vang danh ở Sài Gòn, Cà phê phin bổng chốc thay tên đổi họ như cái tên Sài Gòn thành tên của hồ tặc. Cái tên cúng cơm mà dân Sài Gòn đã đặt cho thú uống cà phê quen thuộc của người miền nam là cà phê phin được đoàn quân của rợ Hồ (chí minh) thay bằng cái tên là:  “ cái nồi ngồi trên cái cốc”, một thứ văn hoá của bọn cướp miền nam đem vào khi đặt chân vào thành phố văn minh của người miền nam vào thời đó. Một loại văn hoá lạc hậu nhất của đám bần cố nông, đại diện cho giai cấp đi đầu của đảng csVN, tưc giai cấp lãnh đạo VN ngày hôm nay. Đây là loại văn hóa của giống nửa người nửa ngợm nửa đười ươi của thằng PGS. Tiến Sĩ Bùi Hiền, từng là phó Hiệu trưởng của Trường Đại học Sư phạm ngoại ngữ (nay là Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội).

Chuyện Năm Xưa, Nay Vẫn Còn Y Nguyên "Cái Nồi ngồi trên cái Cốc". Ngày nay nếu 
quý bạn thử hỏi một người Việt nào đó về cái nhóm chữ kể trên thì có thể người ấy sẽ lắc đầu, trả lời là không biết ý nghĩa nó chỉ cái gì ? Ngoại trừ những người đã từng sống trong khung cảnh của thời điểm: "Cái Nồi Ngồi Trên Cái Cốc". Những ngày sau 30.4.1975 tại miền Nam VN. Ngay khi CS vừa chiếm được thủ đô Saigon, người dân miền Nam đã thấy bộ đội CS kéo nhau (từ nơi đóng quân) đi rảo thành từng nhóm trên các dãy phố để xem phố xá miền Nam và đây cũng là dịp để người dân Saigon tiếp xúc với họ, người miền Bắc XHCN...tiếp xúc với cái văn minh cao độ của loài vượn Pắc Pó. 

Những cuộc tiếp xúc ấy, dù chớp nhoáng, ngắn ngủi nhưng đủ để cho người dân Saigon có những nhận xét về tình hình miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) là:
- Người dân miền Bắc sống trong một xã hội lạc hậu vì có rất nhiều bộ đội hoàn toàn ngạc nhiên khi trông thấy các tiện nghi rất bình thường tại miền Nam như quẹt gaz, máy casesstte , máy hát dĩa , đồ chơi điện tử… Có bộ đội không hề biết Hoa Kỳ đã đưa được người (Neil Amstrong ngày 20.7.1969) lên được mặt Trăng. Kiến thức về thế giới sử, về lịch sử VN và nhất là về miền Nam VNCH của những bộ đội khác biệt hẳn với trình độ hiểu biết của người dân Saigon.

CÁI NỒI NGỒI TRÊN CÁI CỐC

Ngày nay, tuy thời gian đã  trôi qua 43 năm, nhưng những người miền nam từng sống ở Sài Gòn trong những ngày đầu khi đoàn quân " giải phóng " tiếp cận với nền văn minh của người Sài Gòn. và cho tới nay trong mùa quốc nạn, nhiều người vẫn kể về câu chuyện tiêu biểu cho hình ảnh lạc hậu của bộ đội là chuyện về "cái Nồi ngồi trên cái Cốc"

Chúng ta hãy tưỡng tượng lại một hình ảnh - một chàng bộ đội (bên vai đeo lủng lẳng một máy radio) làm ra vẻ bình thản bước vào một tiệm cà phê đông người. Tay nầy kéo ghế ngồi tại bàn, mở radio ra nghe nhưng kín đáo quan sát các thức uống khách đang dùng trong tiệm mà (với chàng ta) có một món là lạ ở trên bàn của những người khách ngồi gần. Chủ tiệm thấy khách là bộ đội, vội bước đến hỏi:
- Anh bộ đội dùng thứ gì đây? (có nghĩa là ông quyền muốn uống thứ gì chủ bán trong tiệm).
Tay bộ đội nầy rụt rè chỉ ngón trỏ vào món (mà y không biết tên gọi ) đó, nói:
- Cho tớ (bộ đội thường xưng hô cậu tớ trong giao tiếp) uống cái món đấy đấy. .
- Món gì? Chủ tiệm ngạc nhiên, hỏi lại ỵ .
- Cái món… như là cái Nồi ngồi trên cái Cốc đó. Tay bộ đội trả lời.
Nhìn theo ngón tay của chàng bộ đội chỉ, chủ tiệm và những người khách ngồi gần bên nghe được phải nín cười (cười công khai lúc đó thì coi chừng mắc vạ chẳng chơi).


Thì ra cái Nồi ngồi trên cái Cốc trong lời nói của bộ đội là ly cà phê Phin. Cái nồi là cái lọc cà phê bằng Nhôm đặt nằm trên trên một cái ly thủy tinh. Món cà phê Phin nầy du nhập vào nước Việt (cả ba miền Nam.Trung.Bắc) từ thời Tây thực dân chứ đâu có phải là thức nước uống mới lạ gì. Vậy mà các chàng bộ đội miền Bắc khi đó lại không biết đến nó. Quá sức lạc hậu! Có người bào chữa cho là món cà phê Phin có thể là một thức uống xa xỉ trong một xã hội nghèo đói như xã hội CS miền Bắc khi đó. Có thể trong các hàng quán thông thường (cửa hàng giải khát quốc doanh) không có nên bộ đội mới không biết đến hình thù nó ra sao. Giờ bắt gặp, thấy lạ nên mới hỏi.

Trong thực tế, hầu như ở bất cứ quốc gia nào cũng đều có những thứ hàng thuộc loại xa xỉ, mắc tiền mà người dân nghèo nơi đó không dám dùng (vì không dư giả tiền bạc) nhưng họ vẫn biết có sự hiện hữu của chúng trên đời nầy. Còn như không biết đến chúng (như món cà phê Phin nhan nhản ở các nước) thì chỉ do người dân bị chính quyền nơi đó bịt mắt không muốn cho biết mà thôi. Chuyện "cái Nồi ngồi trên cái Cốc" tưởng như là một chuyện đùa (kiểu chuyện khó tin nhưng có thật) đã được truyền miệng như một câu chuyện cười dân gian và kể từ  dạo đó trong văn hóa ẩm thực của miền nam được phong phú hóa với cụm từ khá lạc hậu lẩn khôi hài " Cai Nồi ngồi trên cái Cốc).


Dân miền nam VN từ 43 năm qua, không ngừng thay da đổi thịt cho phù hợp với cái văn hóa lạc hậu đó của người cộng sản. Xã hội và nếp sống văn minh của người Sài Gòn nói riêng và miền nam nói chung đều bất hnh và khốn cùng trong suốt thời gian từ 30.41975 cho đến ngày hôm nay.  
 Ông Phan Huy, một nhà văn miền bắc đã làm một bài thơ để cảm tạ miền nam vì ông đã thấy được sự tuyền truyền dối trá của bác và đảng về sự sung túc, nếp sống văn minh của miền nam.
Đã từ lâu, tôi có điều muốn nói
Với Miền Nam, miền đất nước điêu linh
Một lời cảm ơn tha thiết chân tình
Của Miền Bắc, xứ ngàn năm văn vật.
Tôi còn nhớ sau cái ngày “thống nhất”
Tôi đã vào một xứ sở thần tiên
Nếp sống văn minh, dân khí dịu hiền
Cơm áo no lành, con người hạnh phúc.
Tôi đã ngạc nhiên với lòng thán phục
Mở mắt to nhìn nửa nước anh em
Mà đảng bảo là bị lũ nguỵ quyền
Áp bức, đoạ đày, đói ăn, khát uống.
Trước mắt tôi, một Miền Nam sinh động
Đất nước, con người, dân chủ tự do
Tôi đã khóc ròng, đứng giữa thủ đô
Giận đảng, giận đoàn, bao năm phỉnh gạt.
Sinh ra, lớn lên, sau bức màn sắt
Tôi chẳng biết gì ngoài bác, đảng “kính yêu”
Xã hội sơ khai, tẩy não, một chiều
Con người nói năng như là chim vẹt.
Mở miệng ra là: “Nhờ ơn bác đảng
Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh
Đuốc soi đường chủ nghĩa Mác Lê nin
Tiến nhanh, tiến mạnh lên thiên đường vô sản.”
Hai mươi mốt năm trên đường cách mạng
Xã hội thụt lùi, người kéo thay trâu
Cuộc sống xuống thang, tính bằng tem phiếu
Thân phận con người chẳng khác bèo dâu.
Cảm tạ Miền Nam phá màn u tối
Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh
Biết được nhân quyền, tự do, dân chủ
Mà đảng từ lâu bưng bít dân mình.
Cảm tạ Miền Nam soi đường chỉ lối
Đưa tôi trở về tổ quốc thiêng liêng
Của Hùng Vương, quốc tổ giống Rồng Tiên
Chớ không phải Các Mác và Lê Nin ngoại tộc.
Cảm tạ Miền nam mở lòng khai phóng
Đưa tôi hội nhập cùng thế giới năm châu
Mà trước đây tôi có biết gì đâu
Ngoài Trung quốc và Liên xô đại vĩ

Cảm tạ Miền Nam một thời làm chiến sĩ
Chống lại Cộng nô cuồng vọng xâm lăng
Hầu giúp cả nước thoát bầy ác quỉ
Dù không thành công cũng đã thành nhân.
( Phan Huy)
Có thể xem thêm bài viết chi tiết hơn, cùng tác giả tại: http://kimanhl.blogspot.de/2015/04/cai-noi-ngoi-tren-cai-coc-v-hoa-ca-phe.html#gpluscomments

Nguyễn Thị Hồng 18.4.2018