TẠI SAO ĐẢNG CSVN PHẢI GHI NHẬN CUỘC KHỞI NGHĨA YÊN BÁY 10.2.1930 VÀ TÔN VINH CÁC ANH HÙNG DÂN TỘC CỦA
 VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG ?
Vào đầu thế kỷ 20 một chính đảng quốc gia, có tên là Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) được thành lập vào ngày chúa cứu thế ra đời 25.12.1927. Lần đầu tiên một cuộc cách mạng dân tộc long trời lở đất được thực hiện tại các tỉnh thành lớn chung quanh Hà Nội - hoàn toàn dựa vào chính lực của Việt tộc do các nghĩa sĩ của VNQDĐ thực hiện, cuộc cách mạng nhằm đánh đuổi thực dân Pháp bằng vũ lực mà nguồn vũ khí tự sản xuất hoặc lấy được từ các trại binh của thực dân Pháp. VNQDĐ đã khởi động cuộc cách mạng dân chủ không chỉ riêng cho VN mà cho toàn Đông Dương ( Việt-Miên-Lào) và công cuộc cứu quốc hoàn toàn dựa vào chính đôi bàn chân của mình. Đây là cuộc cách mạng tính chính nghĩa đã làm kẻ thù thực dân phải khiếp phục tinh thần quật cường của các sĩ phu VNQDĐ. Cuộc cách mạng này cũng đã làm đảng cộng sản VN phải kính nể và miễn cưỡng ghi vào sử để các di sản hồ chí minh học hỏi về những hào khí ngất trời của 13 anh hùng dân tộc VNQDĐ đã tuẩn quốc dưới máy chém của thực dân ngày 19.6.1930 tại pháp trường Yên Báy.
NGUỒN VŨ KHÍ TỰ TÚC
Các đảng viên VNQDĐ thuộc Tỉnh Đảng bộ tỉnh Bắc Giang như Lương Văn Trạm, Phạm Công Tạo, Trần Ngọc Liên, Vũ Văn Dương, Đỗ Đức Hoạt, Cả Cai, Khóa Yễn...đã âm thầm chế bom để chuẩn bị cho ngày khởi nghĩa. Số bom được các đảng viên chế tạo khá nhiều, tuy nhiên cũng bị bọn mật thám Pháp khám phá và tịch thu: 
- Ngày 20 tháng 11, thực dân khám phá được 130 trái bom chôn dấu tại làng Phao Tân.
- Ngày 23 tháng 12.1929, khám phá được 150 trái bom tại làng Nội Viên.
- Ngày 26 tháng 12.1929, khám phá được 250 trái bom ở Thái Hà Ấp.
- Ngày mồng 10 tháng Giêng năm 1930, khám phá được nhiều chum sành chứa truyền đơn cách mạng ở Lục Nam (Bắc Giang), kêu gọi dân chúng và binh sĩ cùng đứng lên làm cuộc cách mạng giải phóng.

Vì bắt được số truyền đơn này, nên sở mật thám Pháp đã luôn đặt trong tình trạng báo động và có biện pháp đề phòng để chống lại một cuộc bạo động tự phát có thể xảy ra của nhân dân VN! Đánh hơi được sự nổi dậy này nên bọn thực dân Pháp đã canh phòng một cách nghiêm ngặt và khẩn cấp.
Đến ngày 20 tháng giêng 1930, chính quyền thực dân lại khám phá bắt được xưởng chế tạo đao, kiếm và tiếp tục những ngày sau còn khám phá được nhiều trái bom được chế tạo tại nhà Tổng Hội ở làng Kha Lâm (Kiến An) và các làng khác.
Từ những vụ khám phá trên thực dân Pháp mới tìm hiểu cách chế tạo bom của VNQDĐ và theo tờ báo “Volonté Indochinois” ở Hà Nội tiết lộ: “ Đó là những trái bom do mấy người lính An Nam qua Pháp hồi trước đã từng ra chiến trận, và đã từng làm việc trong các kho thuốc súng, nay về nước bắt chước mà làm, vì xét những trái bom giống như đạn hạt lựu (grenade) dùng trong các cuộc chiến giửa Đức và Pháp trước khi thế chiến thứ hai xảy ra”. Những người lính Anam theo báo Pháp tiết lộ, chính là những cựu quân nhân gốc Việt từng đi lính cho Pháp và đã tham gia trong cuộc chiến ở Âu Châu, sau đó giải ngũ trở về nước và tham gia trong hàng ngũ VNQDĐ.
Theo sử VNQDĐ thì những trái bom mà chính quyền thực dân đã khám phá và tịch thu được, là do một số đảng viên của VNQDĐ làm ra, mà đồng chí Trịnh Văn Yên là người thông thạo và đóng vai trò chính yếu trong việc chế tạo ra các loại bom dùng trong cuộc tổng khởi nghĩa ngày 10.2.1930.
Tóm lại, từ cuối tháng 10 năm 1929 đến tháng Giêng năm 1930, chính quyền thực dân đã khám phá được trước sau là 70 nơi chứa bom, đao, kiếm, truyền đơn, cờ quân phục… của VNQDĐ.
TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ DÂN CHỦ
Ngoài ra, trong cuộc khởi nghĩa của VNQDĐ đã để lại trong quá khứ của lịch sử nhiều điều đáng để chúng ta đi sâu vào phân tích và nghiện cứu, nhất là vai trò lãnh tụ của nhà ái quốc Nguyễn Thái Học (NTH), sự nghiệp dang dở mà ông để lại tuy ngắn ngủi nhưng đã tạo lên dấu son trong lịch sử dân tộc. Cần nhìn nhận rằng khi ấy với trình độ dân trí còn thấp, lại sống trong một môi trường thực dân phong kiến, các tư tưởng tiến bộ bị bưng bít phong toả trong tăm tối. Nhưng vượt lên trên tất cả là chí khí yêu nước của một thanh niên mới 25 tuổi, lãnh tụ NTH đã có tư tưởng yêu nước rất sớm, từ một sinh viên trường cao đẳng thương mại do Pháp bảo hộ, ông đã cùng với các đồng chí của mình thành lập VNQDĐ, tổ chức chính trị có tư tưởng dân chủ sớm nhất và lãnh tụ trẻ nhất trong lịch sử. Tư tưởng cách mạng của ông cho đến ngày nay vẫn còn giá trị, nhất là cách thức tổ chức cũng như cơ cấu hệ thống tổ chức của VNQDĐ khi đó đã tỏ ra có nguyên tắc dân chủ.
Những nhà sáng lập VNQDĐ do lãnh tụ NTH khởi xướng đã lập nên tổ chức chính trị VNQDĐ theo đúng nguyên tắc của một tổ chức cách mạng dân chủ. Từ việc tổ chức đại hội đảng gồm những đại biểu tham dự được lựa chọn từ cơ sở cho tới diễn biến và cách thức tổ chức đại hội, đã cho ta thấy ý thức tôn trọng nguyên tắc dân chủ của những nhà cách mạng VN khi đó đã được hình thành rất sớm.
Cương lĩnh và tôn chỉ cũng như nhiệm vụ đề ra sau đại hội đã cho ta thấy trình độ chính trị khi đó rất cao, phù hợp và đáp ứng với lòng mong mỏi của các tầng lớp trung lưu như: sĩ phu, trí thức, tiểu thương địa chủ thời ấy. Vì vậy, như một làn gió mới, nó được các tầng lớp trên đón nhận và phát triển một cách nhanh chóng. Chỉ trong một thời gian ngắn đã có hàng ngàn người xin gia nhập tổ chức VNQDĐ. Một điểm đáng lưu ý nữa là việc lãnh tụ NTH đã biết liên minh liên kết với các tổ chức cách mạng khác, nhằm tạo lên sức mạnh tổng hợp, kết hợp hoạt động đấu tranh chống thực dân Pháp, giải phóng dân tộc Việt Nam.
Một cuộc cách mạng mà vị trí lãnh đạo không phải là một là một lãnh tụ nổi bật với đức cao vọng trọng, hoặc một thiên tài về quân sự hay người có uy tín trong giới trí thức và quần chúng vào thời ấy. Các nhân vật lãnh đạo của VNQDĐ không hề đánh cho Liên Xô , Trung Hoa hay một đế quốc nào khác mà chỉ nhận lệnh giải phóng dân tộc và đất nước VN trực tiếp từ hồn thiêng sông núi từ tiếng kêu xé lòng của mẹ VN.,đây là điều mà đảng csVN cho tới giờ này không bao giờ làm được. Sự hy sinh của các anh hùng VNQDĐ đã là một tấm gương chính nghĩa sáng ngời cho mọi cuộc cách mạng dân tộc của người Việt tự do trong tương lai.
Các bài liên kết:
1.87 NĂM KỶ NIỆM NGÀY ĐAU THƯƠNG CỦA DÂN TỘC (17.6.1930-17.6.2017)
2.CUỘC ĐỜI TÌNH ÁI CỦA CÔ GIANG VÀ NGUYỄN THÁI HỌC
3.HAI CUỘC TỔNG TẤN CÔNG MANG HAI Ý NGHĨA - CỘNG SẢN, NHỮNG KẺ CHƠI BÀI LẬN (II)
4.ANH HÙNG DÂN TỘC PHÓ ĐỨC CHÍNH 
5.NGUYỄN KHẮC NHU MỘT KẺ SĨ ĐẦY TIẾT THÁO ĐẤU THẾ KỶ 20
6.KỶ NIỆM MÙA XUÂN DÂN TỘC MỒNG 2 TẾT CANH NGỌ 1930
7.HÀO KHÍ NHỮNG ANH HÙNG YÊU NƯỚC ĐẦU THẾ KỶ 20
8.HAI CUỘC TỔNG TẤN CÔNGMANG HAI Ý NGHĨA

Kỷ niệm 90 năm ngày thành lập VNQDĐ

25.12.1927-25.12.2017, Nguyen Thi Hong

Google cung cấp Wifi miễn phí toàn cầu, Trung Quốc lo sợ “Great Firewall” mất tác dụng

Theo RFI, vào ngày 27/03 vừa qua tên lửa đẩy đã mang theo 6 vệ tinh Wifi của Google lên không gian, các vệ tinh này sẽ cung cấp mạng Wifi miễn phí cho các khu vực không có mạng Internet. Dự kiến trong năm nay Google sẽ phóng tổng cộng 60 vệ tinh như vậy, hoàn thành bước đầu dự án phủ sóng Wifi toàn cầu.



Google sẽ phóng hàng trăm vệ tinh để thực hiện dự án trên. Wifi sẽ được phủ sóng ở bất cư nơi nào như trên núi cao, sa mạc, vùng cực hay hải dương – (Ảnh: minh họa/cn.rfi.fr)

Tờ Secret China của Mỹ cho biết, Google sẽ phóng hàng trăm vệ tinh để thực hiện dự án trên. Wifi sẽ được phủ sóng ở bất cứ nơi nào như trên núi cao, sa mạc, vùng cực hay hải dương (trừ vùng điểm mù và góc chết). Theo đó, chỉ cần sử dụng một router được lắp pin có trị giá chưa tới vài chục USD làm thiết bị lặp (Repeater), bạn đã có thể truy cập mạng.

Great Firewall (Vạn Lý Trường Thành trên mạng) là hệ thống kiểm duyệt mạng internet lớn nhất, mở rộng nhất của chính phủ Trung Quốc

Trang này nhận xét, một khi dịch vụ này được triển khai, nền tảng tường lửa Great Firewall mà Trung Quốc đã tiêu tốn rất nhiều tiền để xây dựng nhằm cách ly mạng Internet của Trung Quốc với thế giới sẽ bị phá bỏ, thay vào đó WhatsApp sẽ trở thành ứng dụng được sử dụng phổ biến nhất thế giới. Hệ thống WhatsApp có tính năng rất mạnh mẽ, có thể kết nối với Google, Facebook, Twitter và tất cả các mạng nước ngoài.
Những đóa hoa tưởng nhớ được đặt bên ngoài trụ sở của Google ở Trung Quốc sau khi hãng này tuyên bố rời khỏi thị trường Trung Quốc, chụp ngày 20 tháng 1 năm 2010 (Wikimedia Commons)
Chính phủ Trung Quốc trong hơn 16 năm qua đã đầu tư rất nhiều tài lực để phong tỏa Internet. Trong đó với sự nổi bật là che dấu cuộc đàn áp lên học viên Pháp Luân Công, với đỉnh điểm hơn 2 TRIỆU học viên Pháp Luân Công đã bị chính phủ Trung Quốc giết lấy tim, gan,thận, giác mạc v..v..  bán ra nước ngoài thu hàng tỷ USD.
Đó là lý do vì sao tại đất nước này không có Facebook, Google, Youtube v..v..
Trước đó, vì kiểm duyệt khiến Internet ở Trung Quốc bị ‘sập mạng’

Thiên Nhẫn tổng hợp.

 ÁO DÀI KHĂN ĐÓNG LỄ PHỤC 
CỦA TỔNG THỐNg NGÔ ĐÌNH DIỆM
(Khác biệt với lối ăn mặc của Hồ chí Minh)
Cho tới nay chưa ai có thể xác nhận chính xác nguồn gốc lịch sử của chiếc áo dài có từ lúc nào?.Tạm thời chúng ta không phân biệt chiếc áo dài nữ với chiếc áo dài nam, ít ra về mặt hình dạng, chứ chưa xét đến chất liệu vội, bởi trên thực tế, ở khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chiếc áo dài của phụ nữ thành thị vẫn chưa được chiết eo, và hình dạng không khác gì chiếc áo dài đàn ông. Áo dài đàn ông thường bằng vải, lụa, the, hay, gấm, và thường được gọi là : áo dài ta, áo the, hay áo gấm. Màu sắc của chiếc áo dài đàn ông, trừ áo gấm, cũng chỉ giới hạn ở các màu : đen, trắng, xanh lam.
Trong cuốn sách "Huế, la cité impériale du Viet Nam" người ta thấy có bức chân dung của vua Gia Long mặc áo thâm cổ cao, trông như áo dài ta. Như vậy truyền thống mặc áo dài ta của đàn ông VN có thể chấp nhận chính xác, ít nhất từ cuối thế kỷ XVIII vào thời Nguyễn Gia Long. Áo dài đàn ông không chiết eo, và có thể từ trước đến giờ vẫn như thế, từ chiếc áo vải thâm của các ông thầy đồ, hay của các cậu học trò nhỏ ngày xưa, cho đến chiếc áo của "liền anh" Quan Họ, hoặc  chiếc áo gấm của nhà quyền quý. Chiếc áo dài đàn ông không bó sát người, và khi đội thêm cái khăn xếp vào, thi nó toác ra được nét văn hóa truyền thống của Việt tộc của tổ tiên VN. Nếu một người một lãnh đạo dùng trang phục bằng chiếc áo dài nam truyền thống, nó sẽ biểu đạt được nét đặc trưng của Việt tộc với nét văn hóa Đông Phương khác với nam giới trong bộ Âu phục.

Trong khuôn khổ của bài viết này sẽ không đi sâu vào việc phân tích chi tiết của chiếc áo dài nam giới mà người Việt chúng ta thường mặc trong các buổi lễ trọng trong gia đình và  ngày Tết Nguyên Đán hàng năm. Chiếc áo dài khăn đóng nam giới nó đã trải qua một đoạn đường khá dài trong lịch sử VN mà người ta có thể kiểm chứng được, nó đã từng xuất hiện rất nhiều từ Triều Nguyễn Gia Long. Trong triều Nguyễn, áo dài khăn đóng  gần như được coi là trang phục của các quan ngày xưa và dân gian. Áo dài khăn đóng là văn hóa ăn mặc rất thịnh hành trong dân gian từ thế kỷ 17, 18, nó không hề tiểu biểu cho bản chất của chế độ quân chủ phong kiến, vì phong kiến hay quân chủ là cái nằm trong đầu của con người và do con người sáng tạo. Văn hóa ăn mặc "áo dài khăn đóng " của nam giới là một truyền thống của người xưa theo dòng thời gian và cho đến hôm nay có nhiều biến thể để phù họp với không gian và thời gian.Cũng từ lâu Việt tộc đã ngầm công nhận dó là một thứ quốc phục của nam lẫn nữ. VNCH từ thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, người đứng đầu nền đệ nhất cộng hòa công nhận, ông thường mặc áo dài khăn đóng trong các buổi lễ trọng của VNCH, trọng ngoại giao hay trong các dịp tết nguyên đán, người ta còn thấy ông mặc để đi thăm viếng các quốc gia thân hữu. Với Tổng Thống Ngô Đình chiếc áo dài khăn đóng là một vật bất ly thân của ông có từ lúc ông còn là Lễ Bộ Thượng Thư của triều Nguyễn Bảo Đại, chứ không phải từ lúc ông lên làm Tổng Thống. Nơi ông người ta thấy một con người vói tinh thần ái quốc cao độ,  một lãnh tụ đầy đức độ của nhân dân miền nam.
Nhìn qua văn hóa ăn mặc của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và quốc tặc Hồ Chí Minh người thấy được ai là người hết lòng vì dân vì nước và ai là kẻ bán nước làm tay sai cho ngoại bang. 
Khăn đóng người ta làm có hai loại: hoặc là có 7 vòng, hoặc là có 5 vòng, loại bảy vòng được giải thích đó là theo nghĩa “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” còn năm vòng có nghĩ là “Ngũ thường: Nhân, nghĩ, lễ, trí, tín”, dưới cùng những vòng đó khăn đóng của vua Khải Định hay Bảo Đại chỉ là một vạch ngang chữ 一 “nhất” còn của Trương Vĩnh Ký chữ 入(nhập), hình trên đây chữ 人(nhân), những chữ ấy đều có ý nghĩa là bậc trên cùng, thay Trời trị dân, nhập hay đi vào đạo nghĩa làm người, còn chữ nhân là đạo làm người, phải giữ ngũ thường. Áo dài đàn ông có 5 nút, đó cũng là biểu tượng cho giềng mối Ngũ thường: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Về màu sắc chiếc Áo Dài Nam truyền thống thời xưa, vua hay quyến thuộc nhà vua mặc màu vàng nên được gọi là “hoàng tộc”, màu đỏ thường để cho những vị thần thờ ở tôn miếu, những nhà quyền quý thì mặc gấm, lụa là màu sắc, còn những người thường mặc màu thâm, màu trắng dành để mặc khi có tang. Với ý nghĩa phong phú về văn hóa Việt như thế, ngày nay muốn đi tìm môt bộ quốc phục cho người Nam, thì "Áo dài khăn đóng" chính là điều mà chúng ta đang đi tìm.

Các văn nô của đảng csVN từng viết bài đã phá rất nhiều về chiếc áo dài khăn đóng của nam giới. Một điều lạ là bọn văn nô này chúng rất mâu thuẩn khi bài bác chiếc áo dài nam mà không bài bác áo dài nữ (?). Thật ra áo dài nam hay nữ đều giống nhau về nguồn gốc xuất thân, chỉ khác về nội dung, áo dài nam không có chấn eo và màu sắc khác cũng như chất liệu may mặc khác nhau thế thôi!! Mục đích của đám văn nô bài bác chiếc áo dài nam truyền thống là để che dấu cách ăn mặc quái gở của Hồ chí Minh trong "bộ áo 4 túi cái bang" mà HCM đã mặc từ khi bước ra trình diện đồng bào trong ngày 2.9.1945 để đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Cái áo "4 túi cái bang" mà người viết dùng để gọi bộ đồ mà Hồ đã thường xuyên mặc xuất hiện trước công chúng hay đi ra nước ngoài, nó không hề biểu hiện được tính dân tộc hay màu sắc văn hóa truyền thống của VN. Người ta chỉ nhìn thấy được bản chất gia nô của các đảng viên nằm trong hệ thống đảng cs đệ III QT, mà HCM là một người trong hệ thống đó. Bộ áo 4 túi này của Hồ có nguồn gốc từ Stalin tên trùm QT3, các phiên bản của bộ quần áo này người ta còn nhìn thấy được ở Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và các nhà lãnh đạo khác của đảng csTQ. Đến khi truyền tới Hồ chí Minh đã là phiên bàn thứ 3 sau Mao...rồi đến gia tộc 3 đời nhà họ Kim Nhật Thành của Bắc Triều Tiên. 
Chính vì đậm chất tay sai đã thể hiện nơi bộ áo 4 túi cái bang của Hồ Chí Minh nên cho tới nay toàn bộ văn gia nhân sĩ trí thức, học giả của đảng đã không thể đưa ra được bộ "Quốc Phục nam của VN" Lý do: vị chúa đảng hèn với giặc ác với dân HCM, từ lúc sống cho đến khi vào lồng kiếng, đều mặc áo "4 túi CB", biến thể từ cái áo của trùm QT3 là Stalin. Thế nên đảng rất lúng túng trong việc đề nghị một bộ "Quốc Phục Nam" cho VN. Nếu như được đảng công nhận là "Quốc Phục" đồng nghĩa với đàn hậu duệ đảng ngày nay đã xát muối hay đạp mặt vào mặt vị sáng lập đảng csVN, tức cha già Dân Tộc, một con người hoàn toàn không có tư duy dân tộc trong chủ thể. Cũng vì cha già dân tộc ăn mặc ngoài truyền thống dân tộc. Nên, tới nay hơn 7 thập niên qua, Đảng chưa kiếm ra được một bộ quốc phục cho người dân VN để công nhận. Có như thế chúng bảo vệ được cho "Cha Dzà dzân tộc HCM" tránh những trận ném đá và không bị xát muối vào mặt. Tóm lại "Áo 4 túi cái bang" là tác phẩm của Stalin, tức của đệ tam quốc tế. Cờ đảng và cờ quốc gia của Nga Tàu và VNDCCH đều rập khuôn như nhau, nội dung của các là cờ cộng sản đều có nền đỏ và chứa sao vàng và búa liềm.

Không biết rồi đây trong kỳ họp các nguyên thủ APEC tại Đà Nẳng trong tuần 6-10.11.2017 tới đây, các vị này sẽ mặc bộ đồ nào gọi là truyền thống của VN? Điều mà lần trước những đỉnh cao trí ngu của đảng đã vô tình lăng xê cái " Áo Dài Khăn Đóng", một thứ áo mà các đỉnh ngu thời đại từng cho những tên văn nô mạ lỵ là đại diện cho Quân Chủ Phong Kiến. Thật tức cười khi thấy đảng bối rối về "Quốc Phục Nam " của VN nên lôi đại cái Áo Dài truyền thống của Việt tộc ra để các nguyên thủ APEC ăn mặc trong kỳ họp lần nhất năm 2006 ở Hà Nội, cái mà chúng không hề muốn và mạnh miệng nói đó là quốc phục VN, bọn người gian manh xão ngôn này gọi đó là "lễ phục VN" tiêu biểu cho kỳ họp APEC năm 2006 ở Hà Nội . Đúng là một thứ đĩ miệng thời đại HCM. 

Áo dài khăn đóng được xữ dụng như là một bộ lễ phục trong những ngày lễ quan trọng của nền đệ nhất cộng hòa. Khăn đóng áo dài được tổng thống Ngô Đình Diệm dùng làm trang phục cho ông trong những buổi lễ trọng, hoặc trong những lần tiếp đón các vị quốc khách nườc ngoài hay ngoại giao đoàn của các quốc gia có bang giao với VNCH, nó là một trang  phục biểu tượng đặc trưng cho Việt tộc, là kết tinh của quê hương xứ sở, là hồn Việt trải qua mấy ngàn năm nay. Nếu chỉ biết nói cái ăn cái mặc, thoạt nghe rất đơn giản, nhưng một người nam bận áo dài khăn đóng tự nó đã hàm súc được một truyền thống văn hoá tuyệt vời của Việt tộc.

Tục ngữ Việt Nam có câu; "Ăn cho mình, mặc cho người". Ăn mặc nghiêm túc là tự trọng và tôn trọng người khác. “Thông qua việc ăn mặc của môt người lãnh đạo, người quan sát sẽ tìm được một số thông tin quan trọng về văn hóa, phong cách, tư duy, sở thích, dân tộc tính chứa trong con người lãnh đạo,…”. 

Với chiếc áo dài của người Việt Nam, dù ở bất cứ đâu trên thế giới, khi nhìn thấy chiếc áo dài này thì mọi người đều biết rằng đó là trang phục truyền thống của người Việt Nam, đây là một trong những nét văn hóa đặc trưng của người Việt. Mỗi quốc gia đều có một nét văn hóa riêng về trang phục truyền thống của họ, như Nhật Bản có Kimono, Hàn Quốc có Hanbok, Thái Lan có Phasin, Campuchia có Sampot,…Khi nhìn vào những bộ trang phục này thì chúng ta đều biết họ từ đâu đến và đại diện cho nền văn hóa của nước nào.

Cái ăn cái mặc, là một nét biểu hiện văn hóa của con người trong cuộc sống. Trong ca dao- dân ca vùng miền Tây (ĐBSCL), cái mặc thường được miêu tả đi liền với cái đẹp Việt tính và cái tình chân chất của người miền sông nước. Chiếc áo bà ba mang những nét đặc trưng của con người Nam. Nó không đơn thuần là chiếc áo quê mà còn thắm đậm hồn quê một thuở, mang tâm tính miền ruộng đồng, miền đầy thóc gạo và tôm cá... 

“Áo bà ba trắng không ngắn, không dài 
Sao anh không bận, bận hoài áo thun? 
Hai đứa mình chẳng đặng nằm chung 
Tháng này gió bấc, bận áo thun sao ấm mình” 

Qua cách ăn mặc của người lãnh đạo, người dân sẽ khám phá được những nốt nhạc căn bản của bản tình ca dân tộc. Đó là  những nốt nhạc không bao giờ có nơi con người của HCM. Y phục mà HCM ưa thích và ăn mặc hàng ngày nói lên được bản chất gia nô với QT3 cộng sản, thể hiện lòng tận trung với thiên triều của người sáng lập ra đảng bán nước (csVN). Chiếc áo mà họ khoát trên mình, biểu tượng một giai cấp mới " một giai cấp hèn với giặc ác với dân".

Người ta nhìn Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi mặc áo dài khăn đóng, đã cho chúng ta thấy nơi ông lòng yêu nước nhiệt thành, biết tôn trọng giá trị văn hóa truyền thống của Việt tộc. Một người luôn biết nâng niu dân tộc từ việc nhỏ nhất như bộ lễ phục. Tác phong của ông hoàn toàn trái ngược với những con người cộng sản VN trước đây và sau này. Người cs đều giống nhau về bản chất thần phục Đại hán như  Hồ Chí Minh và quan chức cộng sản.

Lý Bích Thủy 29.10.2017
ÔNG DIỆM " NGƯỜI CỦA PHÉP LẠ" ĐÃ LÀM EISENHOWER PHẢI KÍNH PHỤC
Củng cần nhắc lại, vào tháng 6 năm 1954, ông Ngô Đình Diệm nhận sự ủy nhiệm toàn quyền về hành chánh và quân sự từ Quốc Trưởng Bảo Đại trao phó. ông nhận lãnh trách nhiệm điều hành quốc gia trong một tình hình hết sức bi đát: quốc khố trống rỗng, tình hình an ninh cũng như chính trị rối bời như mớ bòng bong. Vừa ngồi vào ghế thì đất nước bị chia hai. Ông lại phải mở rộng vòng tay để tiếp đón và định cư cho một triệu đồng bào di cư từ miền bắc vào nam. Quân quyền nhốn nháo như buổi chợ chiều. Sáu mươi ngàn quân viễn chinh Pháp vẩn còn lại trên lãnh thổ QGVN, bọn thực dân này vì căm thù ông Diệm nên tìm mọi cách xui giục các phần tử thân Pháp như Bình Xuyên nổi lên chống phá khắp nơi. Bước đầu chấp chánh của ông thật gian nan.
Trong khi dân tình chưa ổn định còn hoang mang hốt hoảng, lòng người ly tán thì ông Diệm phải đối đầu với những áp lực của Bắc Việt tại vĩ tuyến 17 vừa lo diệt trừ bọn cộng sản nằm vùng được Bắc Việt cài lại sau hiệp định Genève 1954, mặt khác ông còn phải lo việc thống nhất lực lượng quân sự từ các giáo phái võ trang như Cao Đài, Hòa Hảo , tình hình phải nói là gian nan trăm bề. Nhiều nhà quan sát chính trị thế giới đã cho rằng chính quyền của Thủ Tướng Diệm sẽ không trụ được lâu. Trước một tình trạng hầu như tuyệt vọng này, các nhà quan sát thời thế uy tín hàng đầu thế giới, lạc quan nhất cũng không ngần ngại quyết đoán: Miền Nam Việt Nam chỉ có thể tồn tại được tối đa là sáu tháng.
Nhưng với sức chiến đấu và lòng dũng cảm phi thường, ông Ngô Đình Diệm trong thời gian không đầy hai năm đã biến đổi hẳn tình hình Việt Nam từ hỗn loạn vô chính phủ, thành ổn định, trật tự với tân chế độ Cộng Hòa có kỷ cương, có pháp luật... Trước kết quả thần kỳ này, Tổng Thống Hoa Kỳ Eisenhower đã phải công khai thán phục, gọi ông Diệm là “Người của phép lạ!”. Ông Diệm cũng được tạp chí Time chọn là người của năm.
Tổng Thống Eisenhower đã chính thức mời Tống Thống Ngô Đinh Diệm viếng thăm Mỹ quốc vô cùng trọng thể. Đích thân Tổng Thống Eisenhower ra tận chân thang máy bay nghinh đón ông, là một sự kiện hi hữu trong lịch sử ngoại giao Hoa Kỳ.

Tổng Thống Hoa Kỳ Eisenhower đã mở quốc yến chào mừng ông Diệm và Quốc Hội đã trịnh trọng mời Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa đến nói chuyện trước Lưỡng Viện. Tổng Thống Hoa Kỳ có mặt trong buổi nói chuyện này.
Sự đón tiếp ông Diệm của Tổng Thống Hoa Kỳ hoàn toàn khác xa với sự đón tiếp của Hoa Kỳ dành cho các tên đầu lĩnh Ba Đình như: Chủ Tịch Trương Tấn Sang, Th.T Nguyễn Xuân Phúc hay TBT Nguyễn Phú Trọng trong những lần đến viếng thăm Hoa Kỳ, không có sự dàn chào toán nghi lể dành cho thượng khách, không có thảm đỏ, không có Tổng Thống Hoa Kỳ ra đón tại phi trường....


TIẾT TRỰC TÂM HƯ NỀN TẢNG TƯ DUY CỦA NGÔ ĐÌNH DIỆM

Trong suốt 9 năm cầm quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã dùng cờ hiệu “Tiết trực tâm hư” để biểu tượng cho tư duy của mình trước đồng bào và quốc tế. Tiết trực tâm hư"mang một ý nghĩa hết sức nhân văn trong truyền thống Việt Đạo của mội chính nhân quân tử; Có nghĩa là ngay thẳng, vì dân vì nước, không xiên xẹo ; tâm có nghĩa là lòng thì trống rỗng, không có gì riêng tư cho bản thân. “Tiết trực tâm hư” tượng trưng cho tấm lòng của người một hiền quân. Ông Ngô Đình Diệm trị quốc theo cung cách vương đạo nên lấy khóm trúc làm biểu tượng, làm lời nhắc nhở cho công chức trong hệ thống hành chánh từ trung ương xuống tới hạ tầng.

Dưới chính thể Đệ nhất Cộng hòa, tất cả các khuôn dấu của chính quyền các cấp, kể cả khuôn dấu của Tổng thống đều có hình khóm trúc xum xuê. “Khóm trúc” (hoặc đoạn, khúc giữa hai mắt tre) là hình ảnh của tiết tháo “Tiết trực tâm hư”.
Có lẽ vì bản tính chính trực quang minh của ông Diệm ( Thể hiện qua Quốc huy nền Đệ Nhất Cộng Hòa là Bụi Trúc "Tiết trực tâm hư") là khắc tinh với sự gian manh xảo quyệt của Hồ Chí Minh, và Hồ Chí Minh đã thấy được sự thất bại sẽ đến với hắn nếu ông Diệm còn nắm chính cương ở Miền Nam, nên Hồ chí Minh đã tìm mọi cách loại trừ ông, âm mưu sát hại ông để trừ hậu hoạn cho chế độ Cộng Sản Vô Thần .
Tiếc thay và cũng rủi thay cho thân phận nhược tiểu của VNCH, Hoa Kỳ đã dùng tiền viện trợ để dồn sức ép lên chính phủ Ngô Ðình Diệm, bắt buộc phải theo kế hoạch của Mỹ. Sức ép ngày mỗi gia tăng. Cuối cùng không xoay chuyển được ý chí của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, Hoa Kỳ đã cho CIA kết họp với đám sư sải Ấn Quang và sự hổ trợ của csVN. Phật Giáo và SVHS thân cộng sách động đồng bào Sài Gòn và khắp nơi gây hỗn loạn cho hậu phương. Thâm độc và tai hại nhất là vu cáo cho chính phủ Ngô Ðình Diệm kỳ thị và đàn áp Phật Giáo. Kế hoạch này đã được mặc nhiên phối hợp giữa Hoa Kỳ và Việt Cộng.
Các tài liệu được tiết lộ cho thấy có ba nhân vật quan trọng của chính phủ Hoa Kỳ lúc đó đã dính líu trực tiếp đến việc hạ sát Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, đó là Averell W. Harriman (1891-1986), Thứ trưởng ngoại giao đặc trách về Các Vấn đề Chính trị ; Henry Cabot Lodge (1902-1985), Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Hòa và Lucien E. Conein (1919-1998), đặc vụ của CIA tại Việt Nam. Trong ba nhân vật này Harriman là người đóng vai trò chỉ đạo và quyết định. https://www.thongluan-rdp.org/…/4294-t-i-sao-ph-i-gi-t-c-di…
Tứ bề thọ địch, một nghịch cảnh đến với nền cộng hoà son trẻ. Vì quyền lợi của Mỹ và đám phản tướng VNCH, nên chúng đã cấu kết ra tay sát hại người chí sĩ suốt đời tận tuỵ với tổ quốc và dân tộc. Thương thay cho số phận của một bậc minh quân trong bối cảnh còn nhiều tư tưởng phong kiến, hẹp hòi, hám lợi và thiếu ý thức về trách nhiệm bảo quốc của đám phản tướng-không biết đặt quyền lợi đất nước trên quyền lợi cá nhân.
Hậu duệ VNCH Lý Bích Thủy 25.10.2017
KẾ HOẠCH THIÊN ĐÔ CỦA VÕ SƯ TRẦN HUY PHONG CHƯỞNG MÔN ĐỜI III 
MÔN PHÁI VOVINAM
Đến ngày hôm nay, môn phái Vovinam có mặt khắp nơi trên thế giới với sự đóng góp của những thế hệ môn sinh mới vói tư duy mới, ngoài việc phát triển môn phái, những thế hệ mới này sẽ đóng góp tích cực hơn cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc vì họ là những môn sinh trẻ là những mần non của Việt tộc. Thế nên, ngoài những sinh hoạt với môn phái thế hệ mới này sẽ đóng vai trò xây dựng cộng đồng vững mạnh, xa hơn nửa là họ có thể tiếp tay với đồng bào quốc nội để đưa VN sớm thoát khỏi sự độc tài toàn trị của cộng sản VN. Tương lai các thế hệ trẻ này có thể sẽ thay thế được những thế hệ đi trước, những thế hệ đã từng dày công gầy dựng môn phái, nhưng ngày nay, phần lớn tư duy các thế hệ đi trước này sẽ không còn theo kịp đả tiến về tư tưởng của thế giới văn minh bên ngoài VN. Những thế hệ môn sinh trẻ ở hải ngoại phần lớn được sinh trưởng trong một môi trường giáo dục tốt, được tiếp nhận nền văn hóa nhân bản và tiến bộ nơi xứ người nên họ sẽ không bao giờ thụ động trong việc tiếp tay làm thay đổi bộ mặt của xã hội.
Nhắc lại thời điểm sau khi cộng sản chiếm miền nam năm 1975, đến ngày 27-5-1975, tà quyền cộng sản đã bắt Võ Sư Chưởng Môn và đi cải tạo, một hình thức cầm tù (trá hình) người lãnh đạo của môn phái Vovinam. Không lâu sau đó, VS Trần Huy Phong cũng bị cộng sản nhốt luôn vào tù cải tạo như chưởng môn Lê Sáng. Vovinam như rắn mất đầu, nội bộ môn phái trong ngoài nước đều xáo trộn lãnh đạo. Giữa năm 1980 Võ sư Trần Huy Phong nguyên là Tổng cục Trưởng Tổng Cục huấn luyện đã được tại ngoại. Nhưng môn phái vẩn còn bị cộng sản cấm hoạt động. Trong thời gian 13 năm trải qua nhiều nhà tù khắc nghiệt của cộng sản như: Chí Hoà, Thuận Hải, Phú Khánh, Xuân Phước, Xuân Lộc.... cuối cùng thầy chưởng môn Lê sáng được trả tự do mấy ngày trước tết âm lịch (1988).

Riêng võ sư Trần Huy Phong sau khi được tự do, ông vẫn tiếp tục công việc huấn luyện và đào tạo môn sinh trong bóng tối như ở thời kỳ 1960-1963 trước đây, song song đó thầy Phong đã kín đáo tổ chức đưa hàng trăm võ sư, huấn luyện viên, vượt biên ra hải ngoại tìm tự do để tiếp tục chăm lo việc phát triển môn phái. Chính nhờ việc làm này của Thầy Trần Huy Phong, ngày nay môn phái vẩn tiếp tục được sự nghiệp phát triển môn phái ở hải ngoại tiếp nối tâm nguyện của các chưởng môn đời II Lê Sáng và Chưởng môn đời III Trần Huy Phong, các võ đường Vovinam-VVĐ lần lượt được xây dựng và lớn mạnh tại các quốc gia mà các võ sư và HLV đã định cư như : Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, Âu Châu...Năm 1988 Thầy Trần Huy Phong lại bị cộng sản bắt vào tù lại vì tổ chức vượt biên cho các võ sư của môn phái. Xin xem chuyện kể về võ sư Trần Huy Phong trong những năm bị tu tội trong tác phẩm Đèn Cù: http://www.vinadia.org/den-cu-tran-dinh…/den-cu-2-chuong-29/.
Kế hoạch đưa một số võ sư và HLV vượt biên ra hải ngoại là một tầm nhìn chiến lược của môn phái trong việc "Thiên Đô" thành phần nòng cốt của môn phái ra Hải Ngoại để tránh việc úp bộ toàn phần Vovinam vào quốc doanh.



Năm 1990, bên ngoài VN-tình hình chính trị thế giới đã bước sang khúc quanh mới trong hệ thống các nước anh em Xã Hội Chủ Nghĩa bị rã băng, trong nước kinh tế quốc dân đang ở mức chạm đáy thung lũng, cô đơn trong cộng đồng thế giới, tập đoàn mafia csVN mới đưa ra chiến lược đổi mới toàn diện để không bị thế giới bõ rơi sau lưng. Vovinam được hồi sinh, tà quyền cộng sản cho hoạt động công khai trở lại tại miền nam. Nhưng toàn bộ môn phái phải đặt dưới sự lãnh đạo của chính quyền cộng sản. Nhà nước đương thời đã quốc doanh toàn bộ Vovinam trong nước đồng thời đặt những cánh tay nối dài ra hải ngoại để mưu đồ tóm thâu luôn các võ đường đang hoạt ở hải ngoại do các võ sư và HLV đi vượt biên sau ngày 30.4.1975 và những võ sư đi theo kế hoạch "thiên đô" của võ sư Trần Huy Phong.
Trong lịch sử VN đã từng có nhiều lần dời đô để phù hợp với tình hình an ninh lãnh thổ và quốc gia trước những kẻ thù nhằm thôn tính Việt tộc. Vào thế kỷ 11, Vua Lý Thái Tổ vào mùa xuân năm 1010 đã ra chiếu dời kinh đô của nước Đại Cồ Việt từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La-Thăng Long (Hà Nội), để tránh áp lực của quân xâm lược Bắc Phương về vấn đề an ninh quốc phòng và phát triển quốc gia. Dời đô là một dấu mốc lịch sử nhằm vào việc bảo vệ sự tồn vong của một dân tộc. Trước một chế độ độc tài toàn trị Chưởng môn đời III Trần Huy Phong đã theo gương người xưa thực hiện việc di chuyễn bộ phận lãnh đạo nòng cốt của mộn phái Vovinam ra hải ngoại để tránh nạn cộng sản và không để Vovinam trở thành một bộ phận ngoại vi cho đảng cộng sản VN. Kế hoạch của thầy Phong được gọi là " Thiên Đô" nhắm bảo vệ môn phái trường tồn trước biến động về chính trị, gây bất lợi cho sự phát triển môn phái theo đúng truyền thống của sáng tổ và các bậc võ sư tiền bối trong thời gian đầu xây dựng môn phái thời kỳ 1964.

Bản chất của cộng sản là dùng bạo lực cách mạng để san bằng các giai cấp nhằm đưa đến việc xây dựng một hàng rào chắn cho chế độ, nói nôm na, nhà nước sẽ chủ đạo trong sinh hoạt của bất cứ các tổ chức dân sự nào có mặt trên toàn lãnh thổ VN kề cả các tôn giáo cũng không được nằm ngoài sự kiểm soát của đảng. Thế nên ngày nay các cơ sở như Công Giáo, Phật Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành.... đều bị nhà nước khống chế. Vovinam một tổ chức XHDS nhưng cũng không ngoại lệ nếu như không có người của đảng nằm trong thành phần lãnh đạo.
Thế nên đến năm 1994, khi thấy tình hình chín mùi, mọi cơ sở VVN ở miền nam VN đã hoạt động điều hoà trở lại, cộng sản liền ra quyết định 176 để chi phối toàn bộ hoạt động và trực tiếp nắm quyền điều hành của môn phái VVN, kế tiếp tà quyền ra lệnh cho phát triển VVN-VVĐ rộng ra trên khắp các địa bàn miền bắc. Rồi Tổng cục Thể dục Thể thao CHXHCNVN đã ngang nhiên thành lập một Ban Điều Hành cho VoViNam Việt Võ Đạo toàn quốc bằng quyết định 176 được ký ngày 29/04/1994 bởi Phó Tổng cục trưởng là Mai văn Muôn, Trưởng ban là ông Trương quang Trung, chức vụ là phó Vụ trưởng Vụ TDTT quần chúng, Tổng thư ký Liên đoàn Võ thuật Cổ truyền là Trưởng ban. Kể từ đó tà quyền cộng sản đã tóm thâu được toàn bộ VVN-VVĐ trong nước với sự tiếp tay của Nguyễn văn Chiếu và một số võ sư nằm vùng để biến toàn bộ Vovinam trong nước thành một cơ sở quốc doanh nằm trong qủi đạo của đảng csVN. Thế là Vovinam từ một tổ chức phi chính trị trước 1975 đã biến thành một cơ sở ngoại vi của đảng csVN và bắt đầu bước vào con đường làm chính trị và tay sai chính thức cho đảng csVN. Các qui lệ cũ của môn phái, được các võ sư tay sai góp sức sửa đổi để phù hợp với Tư Tưởng Hồ chí Minh và chủ trương của đảng csVN.
Trước nguy cơ thôn tính và áp đặt môn phái vào qủi đạo của cộng sản, năm 1996 võ sư Trần Huy Phong đã xuất ngoại và kêu gọi các võ sư khắp 5 châu họp tại Paris thành lập Tổng Liên Đoàn Vovinam Việt Võ Đạo (World Federation Vovinam Vietvodao) và Hội đồng Võ sư Vovinam-Việt Võ Đạo thế giới (World Council of Masters). Chính nhờ việc làm này của võ sư Trần Huy Phong mà ngày nay Vovinam Việt Võ Đạo chính thống đã phát triển và tồn tại trên 18 nước, hàng chục Liên Đoàn Quốc gia và hàng nghìn môn sinh ViệtNam và ngoại quốc luyện tập VVN-VVĐ trên khắp thế giới. Ước mơ hoài bão lý tưởng cao đẹp về việc thiên đô của cố võ sư Trần Huy Phong chưa thành tựu viên mãn thì cơn bạo bệnh đã khiến môn phái chúng ta mất đi một võ sư một đời cống hiến cho môn phái và dân tộc.http://vovinamworldfederation.eu/…/thuong-hoi-dong-vo-su-hd…
Võ sư Trần Huy Phong , người thừa kế dòng máu yêu nước di truyền từ Trần Hưng Đạo Đại Vương nên tiềm tàng một tinh thần yêu nước cao độ, lúc nào trong sinh hoạt của môn phái thầy thường chú trọng đến việc đưa tinh thần yêu nước chống ngoại xâm truyền thống của Việt tộc từ ngàn xưa vào chương võ học. Khi Hội Đồng Võ Sư được thành lập năm 1964 tại Sài Gòn, thầy đã bắt tay vào việc huấn luyện và soạn thảo các văn kiên quan trọng để đặt nền móng phát triển môn phái.

Ngoài việc soạn thảo các qui lệ và chương trình chuyên môn cho môn phái cùng với một số các võ sư cao đẳng khác, thầy còn soạn thảo cho chương trình Võ Đạo Hóa công chức hành chánh toàn quốc và Chứng minh "Tính dân tộc của Việt Võ Đạo" nhằm phát huy tinh thần yêu nước của giới trẻ và công chức miền nam VN trước năm 1975.
Võ sư Trần Huy đã từ giả chúng ta và môn phái ra đi, không phải chỉ có môn sinh Vovinam thương tiếc và kính trọng cố võ sư Trần Huy Phong mà cả dư luận rộng rãi trong và ngoài nước cũng biểu lộ sự thương tiếc lòng cảm phục đối với thầy, xem ông như một biểu tượng của những giá trị cao đẹp nhất của cả một giai đoạn lịch sử vô cùng khó khăn của dân tộc Việt nam.
Cố võ sư Trần Huy Phong là “biểu tượng cho một nhân cách sáng ngời và quả cảm trong suốt thời gian còn sinh tiền, thầy tận tụy suốt cuộc đời mình vì lý tưởng Quốc Gia, dân tộc, dân chủ cho đất nước và sự trường tồn của môn phái Vovinam”. Thầy Trần Huy Phong tuy mất vẩn như còn ngự trị trong từng trái tim từ ái của hầu hết các môn sinh chính thống của môn phái Vovinam trên toàn thế giới.
"Công chi sinh, sinh ích vu thời,

Tạo hóa kỳ sinh, sinh hữu tử,

Công chi tử, tử lưu vu hậu,
Quân tử chi tử, tử như sinh"

tạm dịch:
"Ông đã sinh, sinh để có ích cho đời,

Tạo hóa mà sinh, sinh có mất,

Ông đã mất, mất để lưu danh hậu thế,
Quân tử mà mất, mất vẫn như còn".

Chính khí của một danh sư đã làm cho toàn thể các võ sư Cao Đẳng trong kỳ Đại hội Vovinam Viêt võ đạo Thế giới năm 1998 tại Hoa Kỳ đã tôn vinh “Tinh thần Trần huy Phong” là một biểu tượng cao đẹp tuyệt vời sẽ mãi mãi làm rạng danh môn phái, là nguồn sáng rực rỡ - soi đường dẩn lối cho các thế hệ môn sinh hậu duệ Vovinam Việt võ đạo chính thống . Phong cách sống và tinh thần của võ sư Trần Huy Phong chính là tư tưởng và các sống của nhà ái quốc Nguyễn An Ninh
Sống mà vô dụng, sống làm chi

Sống chẳng lương tâm, sống ích gì?

Sống trái đạo người, người thêm tủi
Sống quên ơn nước, nước càng khi.
Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn
Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ
Sống sao nên phải, cho nên sống
Sống để muôn đời, sử tạc ghi.


Trịnh khánh Tuấn 24.10.2017

Cựu môn sinh võ đường Trung Học Kỹ Thuật Cao Thắng 1966